Avatar's bai_tu_long

Ghi chép của bai_tu_long

hải chiến hoàng sa P11 -lực lưọng đôi bên

 Sau đây là đặc tính của các chiến hạm Trung Cộng.

* Hộ Tống hạm Kronstadt

      Sáu chiếc Kronstadt đầu tiên trong HQ Trung Cộng do Nga chế tạo vào khoảng năm 1950 - 1953 và chuyển giao vào năm 1956 -1957. Sau này Trung Cộng tự đóng thêm 12 chiếc nữa tại các xưởng đóng tàu Thượng Hải và Quảng Đông, chiếc sau cùng hoàn tất vào năm 1957. Đặc tính của loại Kronstadt là mình hẹp, lườn thấp và có vận tốc cao để săn đuổi tàu ngầm. Trước năm 1974, loại tàu Kronstadt mang chiến số từ 600 trở lên, sau này được đổi lại với chiến số loại 200 sơn ngoài vỏ tàu.

      - Trọng tải: 310 tấn tiêu chuẩn, 380 tấn tối đa.

      - Kích thước: dài 170 ft, ngang 21.5 ft, tầm nước 9 ft (52 m x 6.5 x 2.7)

      - Máy chánh: 2 máy dầu cặn 3,300 mã lực, 2 chân vịt.

      - Vận tốc tối đa 24 knots.

      - Vũ khí: 1 đại bác 100 ly (3.9 inch) ở sân trưóc và 2 đại bác 37 ly ở sân sau, 2 giàn thủy lựu đạn và 2 giàn thả mìn.

      - Thủy thủ đoàn: chừng 65 người.

     

* Trục Lôi Hạm T-43

      Hai chiếc đầu tiên do Nga chế tạo và chuyển giao vào khoảng năm 1954 -1955. Sau đó Trung Cộng tự đóng thêm 18 chiếc nữa.

      - Trọng tải: 500 tấn tiêu chuẩn, 610 tấn tối đa.

      - Kích thước: dài 190.2 ft, ngang 28.2 ft, tầm nước 6.9 ft (58 m x 6.1 x 2.6)

      - Máy chánh: 2 máy dầu cặn 2,000 mã lực, 2 chân vịt.

      - Vận tốc tối đa 17 knots.

      - Vũ khí: đại bác 85 ly (3.5 inch)[15]

      - Thủy thủ đoàn: chừng 40 người.

2.   Lực lượng trừ bị ứng chiến

      a. Hải QuânViệt Nam Cộng Hòa

      Gồm 2 chiến hạm:

      - Tuần Dương Hạm Trần Quốc Toản HQ-6.

      - Hộ Tống Hạm Chí Linh HQ-11.

      Những chiến hạm này vì được điều động từ xa tới nên không thể có mặt tại Hoàng Sa trước ngày 19 tháng 1.

      Về Không Quân, tuy có tin các phi đoàn phản lực cơ F-5 và A-37 được lệnh túc trực tại phi trường Đà Nẵng nhưng Không Quân cho biết những phi cơ này có tầm hoạt động ngắn khó thể ra tới Hoàng Sa. Cũng có nguồn tin không chính thức cho biết đã có ý định xử dụng các Dương Vận Hạm (LST - Landing Ship Tank) như mẫu hạm tạm thời để chở các trực thăng võ trang ra Hoàng Sa nhưng kế hoạch này không được thực hiện. Tóm lại, các chiến hạm HQ/VNCH không có phi cơ trợ chiến.

     

b. Hải Quân Trung Cộng

      Gồm nhiều chiến hạm đủ loại và phi cơ Mig đủ loại:

      - 4 Khinh Tốc Đĩnh Hỏa Tiễn loại Komar.

      - Nhiều Khu Trục Hạm mang hỏa tiễn loại Kianjiang.

      - 2 tiềm thủy đĩnh mang số 282 và 295.

      - Phi cơ Mig.

     

* Khinh Tốc Đĩnh Hỏa Tiễn Komar

      Chiếc Komar đầu tiên do Nga chuyển giao vào năm 1965, 2 chiếc khác vào năm 1967 và 7 chiếc nữa trong khoảng năm 1968 -1971. Sau đó Trung Cộng tự đóng thêm chừng 10 chiếc khác và đặt tên là "Hoku". Loại chiến hạm này tuy nhỏ nhưng rất nguy hiểm vì có vận tốc nhanh, dễ vận chuyển nên là một mục tiêu rất khó bắn trúng. Ngoài ra, loại hỏa tiễn Styx có thể bắn trúng mục tiêu cách xa vài chục cây số. Ai Cập đã dùng hỏa tiễn loại này đánh chìm Khu Trục Hạm Eilat, chiếc tàu lớn nhất của Hải Quân Do Thái trong trận chiến tranh năm 1967.

      - Trọng tải: 70 tấn tiêu chuẩn, 80 tấn tối đa.

      - Kích thước: dài 83.7 ft, ngang 19.8 ft, tầm nước 5 ft (25.5 m x 6 x 1.8)

      - Hỏa tiễn: 2 giàn phóng hỏa tiễn loại Styx dùng để bắn chiến hạm.

      - Máy chánh: 2 máy dầu cặn 4,800 mã lực, 2 chân vịt.

      - Vận tốc tối đa: 40 knots

      - Vũ khí: 2 đại bác 25 ly (1 giàn đôi gắn đàng trước mũi).

      - Thủy thủ đoàn: chừng 10 người.

     

* Khinh Tốc Đĩnh Hỏa Tiễn Osa

      Chiếc Osa đầu tiên do Nga chuyển giao vào tháng 1 năm 1965. Bốn chiếc khác chuyển giao vào năm 1966 - 1967 và 2 chiếc nữa vào năm 1968. Trung Cộng cũng tự đóng lấy một số khác và đặt tên là "Hola"

      - Trọng tải: 165 tấn tiêu chuẩn, 200 tấn tối đa.

      - Kích thước: dài 128.7 ft, ngang 25.1 ft, tầm nước 5.9 ft (39.3 m x 7.7 x 1.8)

      - Máy chánh: 3 máy dầu cặn, 13,000 mã lực.

      - Vận tốc tối đa: 32 knots

      - Vũ khí: 4 đại bác 30 ly (2 giàn đôi, 1 trước mũi và 1 sau lái).

      - Thủy thủ đoàn: chừng 25 người.

Nếu chỉ so sánh về vũ khí, phía VNCH có phần trội hơn vì các Tuần Dương Hạm được trang bị hải pháo 127 ly, trong khi các Kronstadt của Trung Cộng chỉ được gắn súng cỡ 100 ly[16], nhưng trong một trận hải chiến khi đôi bên gần nhau, cỡ súng lớn chưa chắc đã chiếm được lợi thế vì không tận dụng được tầm bắn xa, hơn nữa nhịp bắn lại chậm. Phần các chiến hạm Trung Cộng có vận tốc cao lại nhỏ nhẹ dễ vận chuyển nên chiếm được ưu thế trong lúc cận chiến. Ngoài ra, các chiến hạm VNCH không những vừa to, cao lại xoay trở tương đối chậm nên là mục tiêu rất dễ dàng cho địch thủ nhắm bắn. Chính Trung Tá San, Hạm Trưởng HQ-4 cho biết vì các chiến hạm Trung Cộng nằm rất thấp gần sát mặt nước nên rất khó bắn trúng. Trong khi các khẩu hải pháo VNCH vì nằm trên cao nên phải xoay trở rất khó khăn, có khi phải hạ cao độ xuống dưới đường chân trời (góc độ trừ) mới có thể nhắm trúng mục tiêu nằm gần. Các chiến hạm Trung Cộng vì thấp hơn nên dễ dàng nâng cao độ của những khẩu đại bác chừng dăm ba độ là đã có thể tác xạ hữu hiệu.

      So sánh những sở trường và sở đoản của từng loại chiến hạm, trong trận hải chiến một chọi một tại Hoàng Sa, lực lượng đôi bên có vẻ tương đồng, việc hơn thua phần lớn sẽ do các cấp chỉ huy và tinh thần của thủy thủ đoàn quyết định. Tuy nhiên, kể về lực lượng trừ bị ứng chiến, phía Trung Cng chiếm ưu thế tuyệt đối, nhất là về mặt không yểm. Có thể nói dù đánh chìm hết các tàu Trung Cng trong ngày 19/1, các chiến hạm HQ/VNCH cũng khó ở lại Hoàng Sa vì không thể đương đầu với lực lượng tăng viện của địch.

3776 ngày trước · Bình luận · Loan tin ·  
Website liên kết